Giấy Đề Nghị Xác Nhận Khám Chữa Bệnh Cho Người Chưa Thành Niên Là Bị Hại 2026

Super Admin •Cập nhật: 9/10/2026
Tải file Word Mẫu 02A, 02B giấy đề nghị xác nhận khám chữa bệnh cho người chưa thành niên là bị hại theo Nghị định 131/2026. Quy trình, thời hạn, cách ghi, ví dụ.

1. Khi nào phải lập giấy đề nghị xác nhận – căn cứ pháp lý

Nghị định 131/2026/NĐ-CP ngày 06/4/2026 quy định chi tiết khoản 3 Điều 160 Luật Tư pháp người chưa thành niên về việc dùng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em để cứu chữa kịp thời người chưa thành niên là bị hại. Nghị định có hiệu lực từ 25/5/2026 và áp dụng từ năm ngân sách 2026. Giấy đề nghị xác nhận là văn bản để cơ quan công an, Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đủ điều kiện, làm căn cứ cho Quỹ tạm ứng.

⚖ Nghị định 131/2026/NĐ-CP – Điều 4“1. Việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Người chưa thành niên là bị hại bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe đang trong tình trạng cấp cứu cần phải cứu chữa tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để ngăn ngừa các hậu quả nghiêm trọng;b) Người bồi thường chưa thể thực hiện bồi thường ngay.2. Người bồi thường chưa thể thực hiện bồi thường ngay quy định tại điểm b khoản 1 Điều này là người bồi thường thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Hộ nghèo;b) Hộ cận nghèo;c) Đã chết;d) Bỏ trốn hoặc chưa xác định được người thực hiện hành vi phạm tội.”


⚖ Nghị định 131/2026/NĐ-CP – Điều 7 (khoản 2, 3, 4)“2. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị hỗ trợ của người đại diện của người chưa thành niên là bị hại, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xác nhận tình trạng cấp cứu của người chưa thành niên, lập Giấy đề nghị xác nhận theo Mẫu số 02A tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến cơ quan công an đang thụ lý vụ việc.3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị xác nhận, cơ quan công an đang thụ lý vụ việc có trách nhiệm thực hiện việc xác nhận các thông tin về người chưa thành niên là bị hại, người bồi thường, người bồi thường thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định này (nếu có) gửi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp không xác nhận thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.4. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc, nếu người bồi thường không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định này thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp tục lập Giấy đề nghị xác nhận theo Mẫu số 02B tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú. Trường hợp xác định được thông tin người bồi thường đã chết trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải gửi Giấy đề nghị xác nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã.”


Hồ sơ gửi Quỹ (Điều 6) gồm: Giấy đề nghị hỗ trợ Mẫu số 01; văn bản xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc; văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã (trường hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo, đã chết); Giấy đề nghị tạm ứng Mẫu số 03. Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận trong 02 ngày làm việc; Quỹ phê duyệt dự toán, cấp tạm ứng trong 01 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; tổng các lần tạm ứng không quá 100 lần mức lương cơ sở, không gồm chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu và phần bảo hiểm y tế chi trả (Điều 5, Điều 7). Nếu người bồi thường đã bồi thường thì dừng thủ tục.

Hình 1. Quy trình xác nhận và tạm ứng chi phí khám, chữa bệnh cho người chưa thành niên là bị hại

2. Tải các mẫu giấy đề nghị theo Nghị định 131/2026

Năm file Word dưới đây là các mẫu thuộc Phụ lục Nghị định 131/2026/NĐ-CP, tải trực tiếp, không cần đăng nhập; mỗi mẫu một ảnh minh họa. Mẫu 2.6 do Ban biên tập soạn để cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo dõi thời hạn từng bước.

2.1. Mẫu số 02A – Giấy đề nghị xác nhận gửi cơ quan công an

Do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập trong 01 ngày làm việc sau khi nhận Giấy đề nghị hỗ trợ, gửi cơ quan công an đang thụ lý vụ việc để xác nhận người chưa thành niên là bị hại, người bồi thường và (nếu có) việc người bồi thường bỏ trốn hoặc chưa xác định được người thực hiện hành vi phạm tội. Đây là mẫu chính của bài viết.

Hình 2. Mẫu số 02A – Giấy đề nghị xác nhận gửi cơ quan công an

⬇ Tải mẫu: Mẫu số 02A – gửi cơ quan công an (Mẫu 1)

2.2. Mẫu số 02B – Giấy đề nghị xác nhận gửi Ủy ban nhân dân cấp xã

Cũng do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập, chỉ dùng khi người bồi thường thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc đã chết; gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú. Không phải gửi nếu việc người bồi thường đã chết đã thể hiện trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Hình 3. Mẫu số 02B – Giấy đề nghị xác nhận gửi Ủy ban nhân dân cấp xã

⬇ Tải mẫu: Mẫu số 02B – gửi UBND cấp xã (Mẫu 2)

2.3. Mẫu số 01 – Giấy đề nghị hỗ trợ của người đại diện

Bước khởi đầu: người đại diện của người chưa thành niên là bị hại (cha, mẹ, người giám hộ…) lập và gửi đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị – trực tiếp, qua bưu chính hoặc trên môi trường điện tử. Có Giấy này thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mới lập Mẫu 02A.

Hình 4. Mẫu số 01 – Giấy đề nghị hỗ trợ của người đại diện

⬇ Tải mẫu: Mẫu số 01 – Giấy đề nghị hỗ trợ (Mẫu 3)

2.4. Mẫu số 03 – Giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập sau khi có văn bản xác nhận của công an và/hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, kèm dự toán chi phí cấp cứu, gửi Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam hoặc Quỹ Bảo trợ trẻ em cấp tỉnh.

Hình 5. Mẫu số 03 – Giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh

⬇ Tải mẫu: Mẫu số 03 – Đề nghị tạm ứng chi phí (Mẫu 4)

2.5. Mẫu số 05 – Giấy đề nghị xác nhận của Quỹ Bảo trợ trẻ em gửi cơ quan công an

Do Quỹ Bảo trợ trẻ em lập sau khi đã tạm ứng, đề nghị công an xác nhận đến thời điểm hiện tại người bồi thường vẫn bỏ trốn hoặc chưa xác định được người thực hiện hành vi phạm tội.

Hình 6. Mẫu số 05 – Giấy đề nghị xác nhận của Quỹ Bảo trợ trẻ em gửi cơ quan công an

⬇ Tải mẫu: Mẫu số 05 – Quỹ gửi cơ quan công an (Mẫu 5)

2.6. Phiếu theo dõi hồ sơ tạm ứng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em (Ban biên tập soạn)

Thời hạn của mỗi bước chỉ 01–02 ngày làm việc nên phòng công tác xã hội hoặc khoa điều trị nên có một phiếu ghi ngày gửi, ngày nhận từng văn bản. Phiếu không phải biểu mẫu bắt buộc. Sao chép nội dung dưới đây vào Word để dùng.

Hình 7. Phiếu theo dõi hồ sơ tạm ứng (Ban biên tập soạn)

Nội dung mẫu 2.6Tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. PHIẾU THEO DÕI HỒ SƠ TẠM ỨNG KINH PHÍ TỪ QUỸ BẢO TRỢ TRẺ EM (cho người chưa thành niên là bị hại – theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP).Người bệnh, ngày sinh, mã bệnh án; giờ, ngày nhập viện cấp cứu, khoa điều trị; người đại diện, quan hệ, điện thoại; người bồi thường và trường hợp: □ hộ nghèo □ hộ cận nghèo □ đã chết □ bỏ trốn/chưa xác định được.Bảng 7 bước (Bước – Văn bản – Thời hạn – Ngày gửi/nhận – Ghi chú): 1. Nhận Mẫu 01; 2. Gửi Mẫu 02A đến công an (01 ngày làm việc); 3. Nhận xác nhận của công an (02 ngày làm việc); 4. Gửi Mẫu 02B đến UBND cấp xã nơi người bồi thường thường trú (01 ngày làm việc – không cần nếu Cơ sở dữ liệu hộ tịch ghi đã chết); 5. Nhận xác nhận của UBND cấp xã (02 ngày làm việc); 6. Gửi Mẫu 03 + dự toán đến Quỹ; 7. Quỹ phê duyệt, cấp tạm ứng (01 ngày làm việc; tối đa 100 lần lương cơ sở).Người lập phiếu, phòng/khoa, ngày lập.


3. Cách ghi và lỗi trong mẫu

Hình 8. Mẫu số 02A – các ô cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải ghi

Mục (số chú thích)Mẫu 02A – gửi công anMẫu 02B – gửi UBND cấp xã
Kính gửi (1)Cơ quan công an đang thụ lý vụ việcUBND cấp xã nơi người bồi thường thường trú
Cơ sở lập (2)Tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang cứu chữaNhư Mẫu 02A
Người chưa thành niên (3)Họ tên, ngày sinh, giới tính, số định danh, nơi ởNhư Mẫu 02A
Nhập viện cấp cứuGiờ, ngày, tháng, năm – khớp bệnh ánNhư Mẫu 02A
Vụ việc (4)(5)/(8)(9)Tên vụ việc, nơi xảy raTên vụ việc, nơi xảy ra
Người bồi thường(10) Họ tên; mục 3 nếu bỏ trốn/chưa xác định(6) Họ tên, (7) địa chỉ thường trú; hộ nghèo/cận nghèo/đã chết
KýĐại diện cơ sở: ký, ghi chức danh, đóng dấuNhư Mẫu 02A


Hình 9. Mẫu số 01 – Giấy đề nghị hỗ trợ của người đại diện

File Mẫu số 01 không kèm phần ghi chú, có thể hiểu như sau: (1), (3) tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị; (2) họ tên người đại diện; (4) họ tên người chưa thành niên là bị hại; (5), (6) họ tên, địa chỉ người bồi thường; (7), (8) tên vụ việc, nơi xảy ra; (9) tên cơ quan công an đang thụ lý.

Lỗi trong mẫu và điểm không được nhầm– Mẫu 02A: phần ghi chú gộp “(1), (6) Tên cơ quan công an đang thụ lý vụ việc” nhưng thân mẫu không có vị trí (6); ghi chú (10) bị đẩy sang trang 2 – khi in nên chỉnh để giữ ghi chú cùng trang hoặc xóa phần ghi chú.– Dấu (*) ở “Ngày/tháng/năm sinh*”, “Giới tính*” trong Mẫu 01, 02A, 02B, 05 không có ghi chú giải thích ngay trong mẫu; chỉ ghi chú của Mẫu 03 nói thông tin có dấu (*) có thể dùng dữ liệu điện tử thay thế khi làm thủ tục trên Cổng Dịch vụ công quốc gia – trong khi Mẫu 03 lại không đánh dấu (*). Khi lập bản giấy, vẫn ghi đủ các thông tin này.– Mẫu 01 không có ghi chú (1)–(9): xem giải thích ở trên, không để trống tên cơ quan công an đang thụ lý.– Mẫu 05: tiêu đề bị ngắt dòng (“TÊN CƠ QUAN CHỦ / QUẢN”, “VIỆT / NAM”) – nới độ rộng cột trước khi in.– Nhầm người lập: Mẫu 02A, 02B, 03 do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập và đóng dấu; gia đình chỉ lập Mẫu 01. Mẫu 05 do Quỹ Bảo trợ trẻ em lập.– Mục 3 của Mẫu 02A (bỏ trốn/chưa xác định được người phạm tội) chỉ giữ khi đúng thực tế; nếu người bồi thường thuộc hộ nghèo, cận nghèo hoặc đã chết thì phải làm thêm Mẫu 02B.– Mẫu 02B ghi địa chỉ thường trú của người bồi thường, không ghi nơi tạm trú hay phòng trọ đang thuê; gửi sai Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ bị trả lời không xác nhận.– Thời hạn tính bằng ngày làm việc: 01 ngày (lập 02A, lập 02B, Quỹ phê duyệt) và 02 ngày (công an, Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận).


4. Ví dụ Mẫu 02A đã điền

Hình 10. Ví dụ Mẫu 02A đã điền – vụ việc tại khu nhà trọ (dữ liệu giả định)

Tình huống giả định: tối 07/9/2026, cháu Nguyễn Bảo Ngọc (14 tuổi) bị thương nặng trong một vụ cố ý gây thương tích tại khu nhà trọ thôn Đông, nơi gia đình cháu đang thuê phòng. Người gây thương tích là Trần Văn K., người thuê trọ cùng khu, đã bỏ trốn. Mẹ cháu gửi Giấy đề nghị hỗ trợ (Mẫu 01) cho bệnh viện; sáng 08/9/2026 bệnh viện lập Mẫu 02A gửi Công an xã đang thụ lý vụ việc. Vì người bồi thường bỏ trốn, bệnh viện giữ mục 3 và không phải lập Mẫu 02B.

Lưu ý khi vụ việc xảy ra tại nhà trọ, nhà thuê, mặt bằng cho thuê– “Địa chỉ nơi ở” của trẻ ghi nơi đang ở thực tế, kể cả phòng trọ đang thuê; nên ghi đủ số phòng, ngõ, thôn để công an đối chiếu với thông tin cư trú.– Người bồi thường là người thuê trọ, thuê nhà: Mẫu 02B gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú, không phải nơi có phòng trọ.– Chủ nhà trọ, chủ mặt bằng không đương nhiên là người bồi thường chỉ vì sở hữu nơi xảy ra vụ việc; người bồi thường do cơ quan công an xác định theo vụ việc.– Chủ nhà trọ nên phối hợp cung cấp thông tin người thuê, sổ theo dõi khách, hình ảnh camera khi công an yêu cầu – giúp xác định người thực hiện hành vi.– Hợp đồng thuê nhà của gia đình trẻ có thể là giấy tờ chứng minh nơi ở khi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc công an cần đối chiếu.

Kết luận

Giấy đề nghị xác nhận về việc khám chữa bệnh cho người chưa thành niên là bị hại gồm Mẫu 02A gửi công an và Mẫu 02B gửi Ủy ban nhân dân cấp xã, do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập sau khi nhận Giấy đề nghị hỗ trợ của gia đình. Ghi đúng cơ quan nhận, địa chỉ thường trú của người bồi thường và tuân thủ thời hạn 01–02 ngày làm việc để trẻ được Quỹ Bảo trợ trẻ em tạm ứng kịp thời. Theo dõi Kinh tế và Pháp luật (kinhtevaphapluat.vn) để cập nhật các mẫu mới nhất.

Lưu ýNội dung mang tính tham khảo, cập nhật đến ngày 09/10/2026. Thủ tục cụ thể tại từng địa phương theo hướng dẫn của Quỹ Bảo trợ trẻ em và cơ quan công an nơi thụ lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Giấy đề nghị xác nhận về việc khám chữa bệnh cho người chưa thành niên là bị hại là mẫu nào?
Là Mẫu số 02A (gửi cơ quan công an đang thụ lý vụ việc) và Mẫu số 02B (gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú) tại Phụ lục Nghị định 131/2026/NĐ-CP.
2. Ai lập Giấy đề nghị xác nhận?
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị cho trẻ, sau khi nhận Giấy đề nghị hỗ trợ (Mẫu 01) của người đại diện (khoản 2, 4 Điều 7 Nghị định 131/2026/NĐ-CP).
3. Khi nào cần Mẫu 02B?
Khi người bồi thường thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc đã chết. Không cần nếu người bồi thường bỏ trốn/chưa xác định được, hoặc việc đã chết thể hiện trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Xem bài viết đầy đủ với tất cả tính năng tương tác

Xem bài viết đầy đủ →